Bệnh Zona

  • Thông tin chung
    Tác nhân gây bệnh: Bệnh zona (hay còn gọi là zona thần kinh) là do sự tái hoạt động của vi rút Varicella zoster (VZV), chính là loại vi rút gây bệnh thủy đậu. Nhiễm vi rút VZV lần đầu gây ra bệnh thủy đậu. Sau khi người bệnh khỏi thủy đậu, vi rút sẽ tiềm ẩn trong các hạch thần kinh rễ sau tủy sống. VZV có thể tái hoạt động sau đó và gây ra bệnh zona.

    Phương thức lây truyền: Lây nhiễm thông qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mụn nước hoặc hít phải các hạt vi rút từ các mụn nước làm lây lan VZV. VZV gây ra bệnh thủy đậu ở những người chưa từng bị thủy đậu hoặc những người chưa được tiêm vắc xin thủy đậu. Khi bệnh thủy đậu đã khỏi, những người này sẽ có nguy cơ mắc bệnh zona.

    Triệu chứng: Người bị zona có thể bị đau, ngứa hoặc ngứa ran ở vùng phát ban. Tổn thương da khởi phát với các ban/ dát/ sẩn đỏ biểu hiện trên da dọc theo đường phân bổ thần kinh. Phát ban thường xuất hiện nhiều nhất ở vùng thân và mặt, thường không vượt qua đường giữa của cơ thể và lành trong vòng 2 đến 4 tuần. Ban đỏ kèm theo đau cấp tính với nhiều mức độ.

    Biến chứng: Các biến chứng của bệnh zona bao gồm đau thần kinh sau zona với tỷ lệ gặp từ 5% - 30%. Đau thần kinh sau zona có thể kéo dài nhiều tháng thậm chí hằng năm. Đau thần kinh sau zona có thể gây mất ngủ và ảnh hưởng đến các hoạt động hằng ngày của người bệnh, dẫn tới các tình tình trạng như chán ăn, gầy sút cân, mệt
    mỏi, trầm cảm. Zona mắt cũng là một biến chứng khác của zona do tổn thương dây thần kinh sinh ba với tỷ lệ gặp lên tới 10% - 15%.
    Zona mắt gây nhiều biến chứng như viêm kết mạc, viêm giác mạc, tăng nhãn áp thậm chí gây mù lòa do viêm võng mạc hay thần kinh thị giác. Một số biến chứng khác ít gặp hơn như liệt dây thần kinh số VII (hội chứng Ramsey Hunt), đột quỵ, viêm não VZV, viêm tủy, viêm động mạch não.

  • Vắc xin dự phòng
    STT Tên thương mại Nhà sản xuất Bản chất Lịch tiêm Đường tiêm
    1 SHINGRIX GSK (Bỉ) Là vắc xin tái tổ hợp bất hoạt gồm kháng nguyên gE của VZV và chất bổ trợ AS01B độc quyền của GlaxoSmithKline gồm chất chiết xuất từ cây Quillaja saponaria Molina, phân đoạn 21 (QS-21) (50 microgram) và 3-O-desacyl 4’-monophosphoryl lipid A (MPL) từ Salmonella minnesota (50 microgram) Liều dùng: 0,5 ml
    Lịch tiêm:
    – Lịch tiêm cơ bản: Hai liều cách nhau từ 2 đến 6 tháng hoặc sớm hơn từ 1 đến 2 tháng với người bị suy giảm miễn dịch hoặc ức chế miễn dịch
    Tiêm bắp
  • Chống chỉ định
    Quá mẫn với các thành phần có hoạt tính hoặc bất kỳ thành phần nào của vắc xin.

    Tác dụng không mong muốn
    – Phản ứng thông thường: Phản ứng tại vị trí tiêm (như đau, đỏ, sưng), mệt mỏi, ớn lạnh, sốt, đau đầu, đau cơ, các triệu chứng tiêu hóa (gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy và/hoặc đau bụng), ngứa chỗ tiêm, khó chịu.
    – Phản ứng nặng: Rất hiếm gặp, nhiễm trùng và nhiễm khuẩn, rối loạn tim mạch, khối u lành và ác tính, hội chứng Guillain - Barré.

    Những điều cân lưu ý
    – Không tiêm tĩnh mạch, trong da hoặc dưới da.
    – Việc sử dụng không đúng qua đường tiêm dưới da có thể làm tăng các phản ứng cục bộ thoáng qua.
    – Cũng như các vắc xin khác dùng đường tiêm bắp, nên thận trọng khi sử dụng Shingrix cho những người bị giảm tiểu cầu hoặc bất kỳ rối loạn đông máu nào vì có thể xuất hiện chảy máu sau khi tiêm bắp cho những đối tượng này.
    – Ngất (bất tinh) có thể xảy ra sau khi tiêm hoặc thậm chí trước khi tiêm do phản ứng tâm lý đối với kim tiêm. Quan trọng là phải có các biện pháp xử lý tại chỗ để tránh thương tích do ngất.
    – Đối với người đã từng mắc bệnh zona, vẫn nên tiêm vắc xin RZV vì bệnh zona có thể tái phát. Không cần chờ đợi thời gian cụ thể để tiêm vắc xin RZV cho người đã bị zona. Tuy nhiên, khuyến cáo nên trì hoãn cho đến khi hết giai đoạn cấp tính của bệnh.
    – Không khuyến nghị đánh giá tiền sử mắc thủy đậu và/ hoặc xét nghiệm sàng lọc thủy đậu trước chủng ngừa zona cho người lớn từ 50 tuổi trở lên.
    – Thai kỳ và cho con bú:
    + Khả năng sinh sản: Các nghiên cứu trên động vật cho thấy Shingrix không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của con đực hoặc con cái.
    + Thai kỳ: Hiện chưa có dữ liệu về việc sử dụng Shingrix ở phụ nữ mang thai.
    + Cho con bú: Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng lên nhũ nhi đang được cho bú khi người mẹ được tiêm Shingrix. – Tương tác và tương kỵ:
    + Có thể tiêm đồng thời Shingrix với vắc xin cúm mùa không có chất bổ trợ, vắc xin phế cầu dạng polysaccharide 23 giá (PPSV23), vắc xin cộng hợp phế cầu (PCV) hoặc vắc xin bạch hầu - uốn ván – ho gà (có thành phần vô bào, được hấp phụ, thành phần được giảm kháng nguyên) (dTap).
    + Các tác dụng không mong muốn như sốt và rùng mình xuất hiện thường xuyên hơn khi dùng đồng thời Shingrix với vắc xin PPVS23 so với việc chi tiêm Shingrix.
    + Nếu dùng Shingrix đồng thời với vắc xin đường tiêm khác, nên tiêm các vắc xin ở những vị trí khác nhau.