Bệnh Sốt xuất huyết Dengue

  • Thông tin chung
    Tác nhân gây bệnh: Vi rút Dengue thuộc chi Flavivirus, họ Flaviridae.  Vi rút Dengue có bốn típ huyết thanh là DENV-1, DENV-2, DENV-3 và DENV-4. Trong đó, theo dịch tễ phân bố các típ huyết thanh vi rút Dengue, hiện nay, típ huyết thanh DENV-1 và DENV-2 chiếm đa số, ở cả trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Theo số liệu công bố của Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế Việt Nam, DENV-2 chiếm lần lượt 88% và 70% tổng số ca giám sát năm 2023 và 2024, DENV-4 chiếm tỷ lệ rất thấp, DENV-3 hầu như không ghi nhận trong một thập kỷ gần đây.

    Phương thức lây truyền: Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà chủ yếu do muỗi đốt người bệnh có mang vi rút, sau đó, muỗi mang mầm bệnh tiếp tục truyền vi rút sang người lành qua vết đốt. Ở Việt Nam, hai loài muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti Aedes albopictus, trong đó
    quan trọng nhất là Aedes aegypti.

    Triệu chứng: Bệnh SXHD có biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Đặc điểm của SXHD là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử tríkịp thời dễ dẫn đến tử vong. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: Giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục.
    Giai đoạn sốt, bệnh nhân có các biểu hiện sốt cao đột ngột, liên tục; nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, có da sung huyết, thường có các chấmxuất huyết dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi; đau cơ, khớp, nhức hai hố mắt. Giai đoạn nguy hiểm thường vào ngày thứ 3 - 7 của bệnh, có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt, có thể có các biểu hiện đau bụng nhiều, liên tục hoặc tăng cảm giác đau nhất là ở vùng gan, có triệu chứng vật vã, lừ đừ, li bì, nôn ói, biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24 - 48 giờ), xuất huyết,... Giai đoạn hồi phục thường vào ngày thứ 7 - 10 của bệnh với tình trạng tốt lên, huyết động ổn định, có thể phát ban hồi phục
    hoặc ngứa ngoài da.
    Mắc sốt SXHD với một típ huyết thanh DENV có khả năng tạo miễn dịch với típ huyết thanh DENV đó kéo dài nhưng khả năng bảo vệ khỏi các típ huyết thanh khác là ngắn hạn. Do vậy, SXHD có thể mắc nhiều lần và lần mắc thứ hai có thể có nguy cơ tiến triển bệnh nặng hơn, tỷ lệ gặp sốc SXHD cao hơn so với lần đầu.

    Nhóm người có nguy cơ: Bệnh thường gặp ở cả trẻ em và người lớn. Trẻ nhỏ, người cao tuổi, người có tình trạng tái nhiễm, đối tượng có các bệnh lý nền mạn tính, phụ nữ mang thai (đặc biệt là giai đoạn chuyển dạ),... thuộc đối tượng có nguy cơ tiến triển bệnh rất nặng và tỷ lệ tử vong cao.
    Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kiểm soát SXHD cần có cách tiếp cận tích hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau, trong đó, chú trọng tiêm chủng vắc xin và kiểm soát véc tơ trung gian truyền bệnh

  • Vắc xin dự phòng
    STT Tên thương mại Nhà sản xuất Bản chất Lịch tiêm Đường tiêm
    1 Qdenga Takeda (Đức) Là vắc xin vi rút sốt xuất huyết Dengue sống, giảm độc lực, tứ giá sản xuất trong tế bào vero bằng công nghệ DNA tái tổ hợp, dựa trên “khung xương” (backbone) của vi rút Dengue típ 2. Liều dùng: 0,5 ml
    Lịch tiêm:
    – Lịch tiêm cơ bản cho người từ 4 tuổi trở lên:
    + Mũi 1: Vào ngày đã chọn;
    + Mũi 2: Cách mũi đầu tiên 3 tháng
    Tiêm dưới da
  • Chống chỉ định
    – Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào của vắc xin.
    – Những người bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải, bao gồm cả điều trị ức chế miễn dịch như hóa trị liệu hoặc corticosteroid đường toàn thân liều cao (ví dụ prednisone 20mg/ ngày hoặc 2mg/ kg thể trọng/ ngày trong 2 tuần hoặc hơn) trong vòng 4 tuần trước khi tiêm chủng, cũng như với các vắc xin sống giảm độc lực khác.
    – Những người bị nhiễm HIV có triệu chứng hoặc nhiễm HIV không có triệu chứng khi có kèm theo bằng chứng về suy giảm chức năng miễn dịch.
    – Phụ nữ có thai.
    – Phụ nữ cho con bú.

    Tác dụng không mong muốn

    – Phản ứng thông thường: Đau tại chỗ tiêm, ban đỏ tại chỗ tiêm, khó chịu, suy nhược, sốt,...
    – Phản ứng nặng: Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có biến cố bất lợi nghiêm trọng nào liên quan đến vắc xin được ghi nhận. Sau khi lưu hành, một số ca phản ứng phản vệ, bao gồm sốc phản vệ được quan sát thấy, tuy nhiên, đều được xử trí an toàn và phục hồi hoàn toàn, tỷ lệ gặp nằm trong giới hạn cho phép. Chưa ghi nhận ca tử
    vong nào liên quan đến vắc xin.

    Những điều cân lưu ý
    – Không cần xét nghiệm miễn dịch sàng lọc tình trạng phơi nhiễm SXHD trước khi tiêm vắc xin.
    – Nhu cầu tiêm liều tăng cường hiện chưa được thiết lập.
    – Hiện tại, vắc xin SXHD không tiêm đồng thời với các vắc xin sống, giảm độc lực khác (ngoại trừ vắc xin sốt vàng).
    – Cũng như các vắc xin sống, giảm độc lực khác, có thể có hiện tượng vi rút trong vắc xin xuất hiện trong máu thoáng qua (vi rút huyết), có liên quan đến các triệu chứng thoáng qua, nhẹ đến trung bình như nhức đầu, đau khớp, đau cơ và phát ban ở một số đối tượng. Hiện tượng vi rút huyết thường bắt đầu vào tuần thứ hai sau lần tiên đầu
    tiên và có thời gian trung bình là 4 ngày và hiếm khi được phát hiện sau mũi tiêm thứ hai.
    – Phụ nữ có khả năng mang thai nên tránh mang thai trong ít nhất 1 tháng sau khi tiêm chủng.