Vắc xin, sinh phẩm là sản phẩm sinh học dùng để tiêm chủng cho người nhằm tạo ra miễn dịch chủ động bảo vệ chống lại một căn bệnh cụ thể. Vắc xin, sinh phẩm tương tác với hệ thống miễn dịch để tạo ra miễn dịch tương tự như quá trình nhiễm trùng tự nhiên, nhưng không gây bệnh hoặc các biến chứng tiềm tàng cho người nhận.
Các bằng chứng khoa học và thực tiễn cho thấy tiêm chủng phòng bệnh là biện pháp dự phòng an toàn nhất, hiệu quả nhất để dự phòng mắc bệnh, tử vong và nâng cao chất lượng cuộc sống, không chi cho trẻ em mà còn cho cả người lớn. Tác động của vắc xin là rất to lớn và toàn diện trên mọi lĩnh vực.
1. Lợi ích của việc tiêm chủng
Tiêm chủng tiếp cận nhiều người hơn bất kỳ dịch vụ y tế hoặc xã hội nào khác và là một phần thiết yếu của dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu. Nó mang lại lợi ích cho cá nhân, cộng đồng, quốc gia và thế giới. Đầu tư cho tiêm chủng là đầu tư cho tương lai.
1.1. Tác động về sức khỏe: Cứu sống và bảo vệ sức khỏe của các quân thể
Hiện có rất nhiều bằng chứng khoa học và thực tiễn đã chứng minh lợi ích của tiêm chủng và tiêm chủng được coi là một can thiệp y tế thành công nhất và có chi phí thấp nhất nhưng có hiệu quả cao nhất. Trong nhiều thập kỷ qua, tiêm chủng đã đạt được những thành tựu đáng kể bao gồm thanh toán bệnh đậu mùa. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (USCDC) đã xếp tiêm chủng phòng bệnh đứng thứ nhất trong 10 thành tựu lớn nhất về y tế công cộng của thế kỷ 20. Tiêm chủng đã làm giảm đáng kể số ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Tiêm chủng góp phần giảm 2 - triệu trẻ em chết hằng năm; thanh toán đậu mùa năm 1979; giảm số ca mắc bại liệt và đang tiến tới thanh toán bại liệt trên toàn thế giới. Gần đây những vắc xin mới đưa vào chương trình làm giảm tỷ lệ viêm phổi do phế cầu, tiêu chảy do vi rút Rota cũng như dự phòng các bệnh mạn tính khác như là ung thư gan, ung thư cổ tử cung. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng nếu tất cả các vắc xin sẵn có hiện nay đều được sử dụng rộng rãi trên thế giới với tỷ lệ bao phủ cao trên 90%, hằng năm dự phòng thêm 2 – 3 triệu trẻ em nữa không bị chết vì các bệnh truyền nhiễm.
Vắc xin, sinh phẩm cũng ngăn ngừa tình trạng khuyết tật, có thể làm giảm sự phát triển và nhận thức của trẻ em, để chúng không chi sống sót mà còn phát triển mạnh mẽ. Vắc xin, sinh phẩm không chi có lợi cho trẻ sơ sinh và trẻ em mà còn cho cả người lớn tuổi. Chúng có thể ngăn ngừa các bệnh ung thư liên quan đến nhiễm trùng và bảo vệ sức khỏe của người cao tuổi và những người dễ bị tổn thương, giúp mọi người sống lâu hơn, khỏe mạnh hơn. Ngoài ra, ít bị nhiễm trùng hơn có nghĩa là ít nguy cơ lây truyền bệnh cho người thân và các thành viên khác trong cộng đồng. Tiêm chủng có thể nâng cao tuổi thọ thông qua việc dự phòng các bệnh truyền nhiễm. Những người cao tuổi được tiêm phòng vắc xin cúm sẽ giảm khoảng 20% nguy cơ các bệnh tim mạch, tai biến mạch não và giảm khoảng 50% tử vong do tất cả các nguyên nhân.
1.2. Tác động về kinh tế
Lợi ích của tiêm chủng đã vượt quá lợi ích dự phòng bệnh tật. Tiêm chủng đã góp phần phát triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho những người dễ bị tổn thương trong xã hội. Chương trình tiêm chủng toàn diện là nền tảng của y tế công cộng, làm giảm nghèo đói và bất công bằng trong xã hội. Ở nhiều quốc gia, các khoản thanh toán trực tiếp cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe có tác động rất lớn đến tài chính hộ gia đình, có khả năng đẩy các hộ gia đình vào cảnh nghèo đói. Phòng ngừa bệnh truyền nhiễm bằng cách tiêm chủng có thể giảm chi phí chăm sóc sức khỏe của các gia đình, góp phần bảo vệ tài chính, một thành phần cốt lõi của bảo hiểm y tế toàn dân. Tiêm chủng có thể mang lại lợi ích trực tiếp như tăng năng suất lao động và tăng giá trị xã hội của cộng đồng, gia đình hay một cá nhân khỏe mạnh. Nhờ tiêm chủng, chúng ta có cơ hội tiết kiệm chi phí cho điều trị, giảm chi phí do bố mẹ và người chăm sóc trẻ không phải nghi việc không lương do chăm sóc trẻ ốm. Chi phí cho điều trị lớn
gấp 5 lần chi phí cho việc triển khai tiêm chủng phòng bệnh.
Tiêm chủng góp phần tăng tỷ lệ trẻ đe sống, dẫn đến giảm tỷ lệ sinh. Điều này cũng làm tăng tiết kiệm thời gian, chi phí chi tiêu cho gia đình và tăng tình trạng sức khỏe của các bà mẹ. Phòng ngừa bệnh truyền nhiễm làm giảm gánh nặng cho các hệ thống
y tế và một quầ thể khỏe mạnh hơn. Trẻ em được bảo vệ chống lại các bệnh truyền nhiễm, có trình độ học vấn tốt hơn và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển, thịnh vượng của quốc gia. Các đợt bùng phát dịch bệnh có thể thu hút các nguồn lực và phá vỡ các chương trình y tế công cộng, các dịch vụ lâm sàng và hệ thống y tế. Chúng cũng có thể có tác động tiêu cực đến du lịch, thương mại và phát triển chung. Các cộng đồng được tiêm chủng có khả năng chống lại các đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm và các hệ thống y tế mạnh mẽ cùng các chương trình tiêm chủng cho phép phát
hiện và ứng phó nhanh chóng để hạn chế tác động của chúng.
1.3. Tác động về xã hội
Tăng cường sự công bằng và bình đẳng: Gánh nặng của bệnh truyền nhiễm bao gồm các bệnh có thể dự phòng bằng vắc xin, sinh phẩm xảy ra chủ yếu ở các vùng khó khăn và kém phát triển và ở các nhóm người dễ bị tổn thương. Tiêm chủng đã có lợi ích rõ ràng cho nhóm người này. Việc tiêm chủng đã làm giảm sự phân biệt về kinh tế xã hội và cũng như về phân biệt chủng tộc, góp phần đảm bảo tính công bằng giữa những nhóm có tình trạng kinh tế xã hội khác nhau.
Nâng cao quyền của người phụ nữ: Phụ nữ không phải thức khuya dậy sớm và nghi việc không lương do chăm sóc trẻ ốm. Ngoài ra nhờ việc giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, phụ nữ có xu hướng sinh ít trẻ em hơn trước đây. Phụ nữ khỏe mạnh hơn và có nhiều thời gian hơn tham gia vào các công tác xã hội.
Tiêm chủng góp phần tăng cường an toàn trong đi lại: Nguy cơ phơi nhiễm các bệnh truyền nhiễm khi đi nước ngoài ngày càng tăng do việc gia tăng các phương tiện đi lại như hiện nay trên toàn cầu. Hành khách khi di chuyển có thể lây truyền và phát tán các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. Dự phòng khủng bố sinh học: Gần đây người ta lo ngại rằng có nguy cơ sử dụng vi rút đậu mùa như là vũ khí sinh học. Các vắc xin để bảo vệ người dân khỏi nguy cơ đe dọa của khủng bố sinh học như bệnh đậu mùa,
bệnh than.
1.4. Tạo ra một thế giới an toàn hơn, khỏe mạnh hơn, thịnh vượng hơn
Vắc xin là một thành phần quan trọng trong cuộc chiến chống lại các bệnh truyền nhiễm mới nổi và tái nổi. Các tác nhân gây bệnh không bị ràng buộc bởi biên giới quốc gia, và việc di chuyển của người dân trong nước và quốc tế có thể làm lây lan nhanh chóng các bệnh truyền nhiễm. Quá trình đô thị hóa ngày càng tăng dẫn đến dân số đông đúc, làm tăng khả năng lây truyền bệnh truyền nhiễm và bùng phát dịch. Ngoài ra, biến đổi khí hậu khiến những nhóm quần thể mới tiếp xúc với các bệnh do véc tơ truyền và có thể làm thay đổi các mô hình và cường độ của các bệnh theo mùa. Do đó, việc phát hiện, phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa của bệnh truyền nhiễm là chìa khóa cho an ninh y tế toàn cầu. Ở mọi nơi trên thế giới, các bệnh truyền nhiễm ngày càng làm tăng khả năng kháng thuốc kháng sinh và vi khuẩn kháng thuốc khác. Việc ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm thông qua tiêm chủng không chi bảo vệ mọi
người khỏi các bệnh nhiễm trùng kháng thuốc mà còn làm giảm sự lây lan của chúng cũng như nhu cầu và việc sử dụng thuốc kháng sinh, do đó góp phần vào cuộc chiến chống lại tình trạng kháng thuốc kháng sinh. Tiêm chủng và giám sát bệnh tật là những năng lực cốt lõi theo yêu cầu của Điều lệ Y tế Quốc tế (2005), vì chúng góp phần vào các hệ thống y tế bền vững, phục hồi có thể ứng phó với các đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm, nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng và các tình trạng khẩn cấp.
Hơn nữa, việc quản lý và xử lý rác thải sau hoạt động tiêm chủng phải là một phần của hoạt động tiêm chủng, góp phần trực tiếp vào sự an toàn của bệnh nhân và chất lượng chăm sóc, đồng thời giảm thiểu rủi ro về môi trường và khí hậu.
Tiêm chủng đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được các Mục tiêu Phát triển bền vững, cụ thể là Mục tiêu Phát triển bền vững 3: “Đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh và thúc đẩy hạnh phúc cho mọi người ở mọi lứa tuổi” và cũng đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào 13 mục tiêu phát triển bền vững khác.
Vắc xin phòng COVID-19 là ví dụ điển hình về tác động của vắc xin. Các trường hợp mắc COVID-19 lần đầu tiên được ghi nhận ngày 29/12/2019 tại Vũ Hán (Trung Quốc). Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới công bố dịch COVID-19 là đại dịch toàn cầu. Tính đến ngày 26/04/2023 toàn thế giới có 764.474.387 ca nhiễm và 6.915.286 trường hợp tử vong vì COVID-19, đại dịch đã ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống bao gồm sức khỏe, chính trị, kinh tế, giáo dục và các sự kiện văn hóa xã hội. Vào ngày 11/1/2020, trình tự gen của vi rút Corona mới, sau này được đặt tên là SARS-CoV-2, đã được công bố trên Genbank. Gần 11 tháng sau, loại vắc xin đầu tiên do Pfzer-BioNTech sản xuất đã ra đời, được chấp thuận ở Anh và Mỹ và sau đó được sử dụng ở nhiều quốc gia. Tiêm vắc xin có thể có tác động đáng kể trong việc giảm thiểu bùng phát COVID-19, đặc biệt giảm nguy cơ mắc bệnh nặng, nhập viện và tử vong, ngay cả khi khả năng bảo vệ chống lại nhiễm trùng còn hạn chế.
2. Tiêm chủng ở Việt Nam
2.1. Chính sách sử dụng vắc xin, sinh phẩm phòng bệnh ở Việt Nam
Luật Phòng bệnh số: 114/2025/QH15 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2026 đã quy định rất cụ thể về sử dụng vắc xin và sinh phẩm y tế. Các nguyên tắc và chính sách chủ yếu về sử dụng vắc xin, sinh phẩm được quy định như sau:
2.1.1. Quyền và nghĩa vụ tiêm chủng
– Hình thức sử dụng: Tiêm chủng là việc đưa vắc xin, sinh phẩm vào cơ thể con người để phòng bệnh. Hoạt động này được thực hiện theo hình thức tự nguyện hoặc bắt buộc (theo Điều 22 Luật Phòng bệnh).
– Quyền lợi: Mọi người dân đều có quyền được tiếp cận và sử dụng vắc xin, sinh phẩm an toàn, hiệu quả để bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
– Tiêm chủng bắt buộc: Để đảm bảo miễn dịch cộng đồng, Nhà nước quy định tiêm chủng bắt buộc trong các trường hợp:
+ Các vắc xin thuộc Chương trình Tiêm chủng mở rộng đối với trẻ em và phụ nữ có thai.
+ Người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch hoặc người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử đến vùng có dịch.
2.1.2. Chính sách tài chính và nguồn lực
Luật Phòng bệnh 2025 quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước và huy động nguồn lực xã hội:
– Ngân sách Nhà nước: Nhà nước bảo đảm kinh phí cho tiêm chủng bắt buộc (gồm tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng chống dịch).
– Xã hội hóa: Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ tiêm chủng (tiêm chủng dịch vụ) để người dân được tiêm chủng thuận lợi, đặc biệt được tiếp cận với nhiều loại vắc xin phòng bệnh.
2.1.3. Quản lý và hệ thống thông tin
Nhiều nghị định, thông tư và hướng dẫn chuyên môn đã được xây dựng để bảo đảm an toàn tiêm chủng từ khâu tiếp nhận, vận chuyển, bảo quản đến thực hành tiêm chủng và giám sát sự cố bất lợi sau tiêm. Bộ Y tế tiếp tục vận hành và nâng cấp Hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia (NIIS). Hệ thống này quản lý đối tượng tiêm chủng
theo mã định danh duy nhất, theo dõi lịch sử tiêm chủng suốt đời của người dân (bao gồm cả tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng chống dịch và tiêm chủng dịch vụ), giúp người dân dễ dàng tra cứu và quản lý lịch tiêm của mình thông qua các ứng dụng công nghệ.
2.2. Chương trình Tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam
2.2.1. Chặng đường hình thành và phát triển Chương trình TCMR tại Việt Nam
Giai đoạn 1981 - 1984: Triển khai thí điểm ở một số tinh, chủ yếu sử dụng hình thức tiêm chủng chiến dịch (tiêm chủng hàng loạt) trên một số địa bàn có nguy cơ cao. Hình thức tiêm chủng thường xuyên (tiêm chủng hàng tháng) bắt đầu được áp dụng ở một số địa bàn có điều kiện thuận lợi và từng bước được mở rộng. Hết giai đoạn thí điểm đã có 50% số tinh triển khai dịch vụ TCMR.
Giai đoạn 1985 - 1990: Chương trình TCMR chính thức triển khai ở 100% tinh và huyện trên cả nước với sáu vắc xin: Lao, bạch hầu - ho gà - uốn ván, bại liệt và sởi; tuy nhiên còn tới 3,6% số xã với gần 400 xã vùng núi, vùng sâu, vùng xa chưa triển khai được công tác tiêm chủng.
Giai đoạn 1991 - 1995: Xóa xã trắng về tiêm chủng, dưới sự chi đạo trực tiếp của Bộ Y tế, thực hiện chương trình kết hợp quân dân y, đặc biệt là sự kết hợp của Quân y bộ đội biên phòng, ngành y tế từng bước xóa các xã trắng về TCMR và đạt mục tiêu này vào năm 1995. Việc xóa xã trắng về TCMR có thể được coi là một thành công kỳ diệu của ngành y tế Việt Nam.
Giai đoạn 1996 - nay: Trên cơ sở thành quả đã đạt được, từ năm 1996 Chương trình TCMR phấn đấu duy trì diện bao phủ thường xuyên trên toàn quốc, đồng thời tập trung hoạt động để nâng cao các mặt chất lượng tiêm chủng. Những mục tiêu chính ở giai đoạn này là:
– Duy trì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi luôn đạt mức cao trên 90% ở quy mô tuyến huyện.
– Nâng cao tỷ lệ hình thức tiêm chủng thường xuyên hàng tháng ở đơn vị tuyến xã, kết hợp chặt chẽ với hình thức tiêm chủng chiến dịch, gồm cả chiến dịch toàn quốc, chiến dịch theo khu vực hoặc chiến dịch nhỏ đáp ứng cho từng địa bàn (xã, phường, nhà trường, khu dân cư...) có nguy cơ cao hoặc xảy ra dịch.
– Tăng cường chi đạo, giám sát, hỗ trợ đối với những vùng triển khai tiêm chủng gặp nhiều khó khăn như ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo.
– Tranh thủ hỗ trợ quốc tế, từng bước đưa vào Chương trình TCMR những vắc xin mới, lịch tiêm mới, kỹ thuật tốt hơn; tăng cường chất lượng dây chuyền lạnh; giám sát bệnh, giám sát an toàn tiêm chủng ở những địa bàn trọng điểm và trên toàn quốc.
2.2.2. Thành tựu của Chương trình Tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam
Trong 40 năm qua, Chương trình TCMR ở Việt Nam đã đạt được những thành tích to lớn như sau:
– Thanh toán bệnh bại liệt (polio) năm 2000. Năm 2000, Việt Nam cùng với các nước khu vực Tây Thái Bình Dương đã đạt mục tiêu thanh toán bệnh bại liệt và tiếp tục bảo vệ thành quả này trong khi vẫn còn nguy cơ xâm nhập của vi rút bại liệt hoang dại từ các quốc gia vẫn còn lưu hành từ châu Á và châu Phi. Việt Nam không ghi nhận trường hợp bại liệt hoang dại và tiếp tục bảo vệ thành công thành quả thanh toán bệnh bại liệt kể từ năm 2000.
– Loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh năm 2005. Tháng 12 năm 2005, WHO và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) đã xác nhận Việt Nam có ti lệ mắc uốn ván sơ sinh dưới 1/1000 trẻ đe sống trong một năm và công nhận Việt Nam đã loại trừ uốn ván sơ sinh trên quy mô huyện. Kể từ năm 2005 đến nay, tỷ lệ mắc uốn ván sơ sinh thường
xuyên dưới 0,02/100.000 dân, và có 100% số huyện trên toàn quốc đạt chi tiêu loại trừ uốn ván sơ sinh của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương đề ra.
– Khống chế và tiến tới loại trừ nhiễm viêm gan B: Việt Nam là nước có tỷ lệ lưu hành bệnh viêm gan B cao. Vắc xin viêm gan B được triển khai lần đầu trong TCMR từ năm 1997. Kết quả điều tra “Đánh giá hiệu quả của tiêm chủng vắc xin viêm gan B giai đoạn 2000 - 2008” tại 51 tinh/ thành phố cho thấy xu hướng giảm tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B một cách rõ rệt của các nhóm trẻ sinh ra trong giai đoạn 2000.
- 2008. Nhóm trẻ 5 tuổi tại thời điểm điều tra (trẻ sinh 2006) có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B là 1,89%, đạt được mục tiêu của WHO về giảm tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B ở trẻ em 5 tuổi xuống dưới 2% vào năm 2012 và đang tiến tới giảm tỷ lệ này xuống dưới 1% trong tương lai.
– Khống chế bệnh bạch hầu: Tỷ lệ mắc bạch hầu liên tục giảm từ năm 1984 đến nay, tương ứng với sự gia tăng tỷ lệ trẻ được tiêm vắc xin DPT. Trong năm 2023, tỷ lệ mắc bạch hầu giảm từ 4,2/100.000 dân năm 1984 xuống dưới 0,058/100.000 dân.
– Khống chế bệnh ho gà: Số mắc và tỷ lệ mắc ho gà cũng liên tục giảm từ năm 1984 đến nay tương quan với sự gia tăng tỷ lệ trẻ được tiêm chủng DPT. Tỷ lệ mắc ho gà giảm từ 84,4/100.000 dân năm 1984 xuống còn 0,4/100.000 dân năm 2023.
– Thông qua việc triển khai Chương trình TCMR và các chương trình y tế khác, Việt Nam đã giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, từ 58 phần nghìn trẻ đe sống năm 1990 xuống còn dưới 20 phần nghìn năm 2023 góp phần đạt mục tiêu thiên niên kỷ thứ tư.
Triển khai thêm vắc xin mới trong Chương trình TCMR theo Nghị quyết 104/NQ-CP năm 2022 của Chính phủ: Vắc xin phòng bệnh do vi rút Rota (2023), vắc xin phòng bệnh do phế cầu (2026), vắc xin phòng bệnh do HPV (2026) và vắc xin phòng bệnh cúm mùa (2030).
2.3. Sự phát triển của tiêm chủng dịch vụ
Tiêm chủng dịch vụ là hình thức tiêm chủng phải trả phí do các cá nhân/ tổ chức tư nhân thực hiện, xây dựng và vận hành trong khuôn khổ các quy định của Bộ Y tế. Việc phát triển mạnh các cơ sở tiêm chủng dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa mang lại lợi ích cho người dân, đồng thời góp phần tích cực vào việc phòng, chống dịch bệnh. Trong khi đối tượng của Chương trình TCMR chủ yếu là trẻ nhỏ thì đối tượng của tiêm chủng dịch vụ là mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đến trẻ vị thành
niên, người lớn và các nhóm người có nguy cơ cao mắc bệnh như người cao tuổi, phụ nữ mang thai, người có bệnh lý nền, người bị phơi nhiễm với vi rút dại, uốn ván,... với hơn 50 loại vắc xin phòng ngừa khoảng 30 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Bên cạnh Chương trình TCMR, tiêm chủng dịch vụ cung cấp ước tính 15 - 20 triệu mũi tiêm mỗi năm đóng góp phần không nhỏ vào nâng cao tỷ lệ bao phủ tiêm chủng vắc xin ở Việt Nam.
3. Kế hoạch hành động toàn cầu về tiêm chủng
3.1. Bài học từ Kế hoạch hành động vắc xin toàn câu (Global Vaccine Action Plan - GVAP) của “Thập kỷ vắc xin” (2011-2020)
Năm 2012, Đại hội đồng Y tế Thế giới thông qua GVAP nhằm đạt được mục tiêu của thập kỷ vắc xin: “Nâng cao sức khỏe vào năm 2020 bằng tăng cường lợi ích đầy đủ của tiêm chủng cho tất cả mọi người không tính đến nơi họ sinh ra, họ là ai, hiện đang ở đâu”.
Việc xem xét kinh nghiệm với GVAP vào năm 2019 đã rút ra được những bài học quan trọng cho thập kỷ từ năm 2020 đến năm 2030. Tiêm chủng đã cứu sống hàng triệu sinh mạng mỗi năm. Từ năm 2010 đến năm 2018, 23 triệu ca tử vong đã được ngăn ngừa chi bằng vắc xin sởi. Số trẻ sơ sinh được tiêm vắc xin hằng năm – hơn 116 triệu, hoặc 86% tổng số trẻ sơ sinh được sinh ra – đã đạt mức cao nhất từng được báo cáo. Hơn 20 căn bệnh đe dọa tính mạng hiện có thể được ngăn ngừa bằng cách tiêm chủng. Kể từ năm 2010, 116 quốc gia đã đưa vào sử dụng các loại vắc xin mà trước đây họ chưa từng sử dụng, bao gồm cả vắc xin chống lại các bệnh gây tử vong lớn như viêm phổi do phế cầu khuẩn, tiêu chảy, ung thư cổ tử cung, thương hàn, tả và viêm màng não. Hơn nữa, đã có nhiều tiến bộ trong quá trình phát triển vắc xin. Hiện đã có vắc xin để bảo vệ chống lại bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, bệnh do vi rút Ebola, bệnh do vi rút hợp bào hô hấp, bệnh lao và tất cả các chủng vi rút cúm. Nghiên cứu mới về kháng thể trung hòa, kháng thể đơn dòng và vắc xin điều trị đang mở ra những chân trời mới. Ngày càng có nhiều vắc xin, sinh phẩm bảo vệ sức khỏe cho mọi lứa tuổi trẻ nhỏ, tuổi vị thành niên và tuổi trưởng thành, trong thời kỳ mang thai và người cao tuổi. Phân phối và quản lý vắc xin, sinh phẩm và các dịch vụ tiêm chủng đã được cải thiện. Các công cụ kỹ thuật số, các kỹ thuật mới như tiêm không cần kim tiêm, chuỗi cung ứng thông minh hứa hẹn sẽ mang lại thành công cho các chương trình tiêm chủng trong thập kỷ tới. Việc tiếp cận kịp thời dữ liệu đáng tin cậy sẽ mang đến những cơ hội mới cho các chương trình quốc gia để theo dõi và liên tục cải thiện hiệu suất, phạm vi tiếp cận và hiệu quả của chúng. Tuy nhiên, các chương trình tiêm chủng vẫn còn những thách thức quan trọng.
– Lợi ích của việc tiêm chủng được chia se không đồng đều: Phạm vi bao phủ rất khác nhau giữa các quốc gia và trong từng quốc gia. Một số nhóm quần thể – thường là những người nghèo nhất, thiệt thòi nhất và dễ bị tổn thương nhất, ở những nơi dễ bị xung đột, không được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ tiêm chủng. Mỗi năm, khoảng 20 triệu trẻ sơ sinh không được tiêm đủ liều vắc xin cơ bản và nhiều trẻ khác không được tiêm vắc xin mới. Trong số này, hơn 13 triệu trẻ không nhận được liều vắc xin nào thông qua các chương trình tiêm chủng.
– Ở một số quốc gia, tiến độ đã bị đình trệ hoặc thậm chí bị đảo ngược và nguy cơ tự mãn sẽ làm suy yếu các thành tựu trong quá khứ là có thật. Các đợt bùng phát bệnh sởi là lời nhắc nhở rõ ràng rằng các chương trình tiêm chủng mạnh và giám sát bệnh hiệu quả là cần thiết để duy trì mức độ bao phủ cao, để loại trừ và thanh toán các bệnh.
3.2. Kế hoạch tiêm chủng 2030 (Immunization Agenda 2030 - IA2030)
3.2.1. Mục tiêu chiên lươc toàn cầu
Vào tháng 8 năm 2020, Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 73 đã thông qua Kế hoạch tiêm chủng (IA2030) với mục tiêu chiến lược toàn cầu bao gồm: (1) Giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật do các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc xin cho mọi người trong suốt cuộc đời. (2) Không bỏ lại ai phía sau, bằng cách tăng cường tiếp cận và sử dụng vắc xin mới và hiện có một cách công bằng. (3) Đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc cho mọi người bằng cách tăng cường tiêm chủng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và
đóng góp vào bao phủ y tế toàn dân và phát triển bền vững. IA2030 nhấn mạnh rằng tiêm chủng là quyền cơ bản của mỗi người để được bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần, đồng thời là khoản đầu tư mang lại lợi ích lâu dài, hướng tới một thế giới khỏe mạnh, an toàn và thịnh vượng, trong đó không ai bị bỏ lại phía sau trong bất cứ hoàn cảnh hay giai đoạn nào của cuộc sống. IA2030 là một chiến lược toàn cầu được tạo ra cho cộng đồng toàn cầu và đòi hỏi sự tham gia rộng rãi của tất cả các bên liên quan.
3.2.2. Bảy ưu tiên chiến lược
IA2030 cung cấp một khuôn khổ chiến lược dài hạn để hướng dẫn một giai đoạn hoạt động năng động, ứng phó với những thay đổi trong nhu cầu của quốc gia và bối cảnh toàn cầu. Thông qua nỗ lực chung của tất cả các bên liên quan, chúng ta sẽ đạt được tầm nhìn cho thập kỷ này. Ưu tiên chiến lược bao trùm đầu tiên là đảm bảo rằng các chương trình tiêm chủng là một phần không thể thiếu của chăm sóc sức khỏe ban
đầu để đạt được phạm vi bảo hiểm y tế toàn dân. Thứ hai là cam kết và nhu cầu của cộng đồng. Hai ưu tiên chiến lược này là cơ sở của một chương trình tiêm chủng và là điều cần thiết để cung cấp các dịch vụ y tế lấy con người làm trung tâm, theo nhu cầu cho các cá nhân và cộng đồng. Ba ưu tiên chiến lược tiếp theo: Phạm vi bảo hiểm và công bằng; Tiêm chủng trọn đời và lồng ghép; Các đợt bùng phát dịch và trường hợp khẩn cấp, đảm bảo cung cấp các dịch vụ tiêm chủng trước tình trạng gia tăng dân số, đô thị hóa liên tục, di cư gia tăng, di chuyển xuyên biên giới và di dời dân số, xung đột, bất ổn chính trị, thiên tai và biến đổi khí hậu. Hai ưu tiên chiến lược còn lại là những yếu tố tạo nên thành công. Cần tiếp tục đầu tư để chống lại các bệnh truyền nhiễm mà không có vắc xin. Tương tự như vậy, đổi mới sẽ cải thiện hiệu suất của các chương trình tiêm chủng bằng cách đảm bảo cung cấp dịch vụ cho các nhóm dân số chưa được phục vụ đầy đủ. Đảm bảo nguồn cung cấp vắc xin giá cả phải chăng đáng tin cậy trên toàn cầu và tính bền vững của các chương trình quốc gia trên toàn thế
giới cũng rất cần thiết để thành công.
3.2.3. Bốn nguyên tắc cốt lõi
Bảy ưu tiên chiến lược này được thực hiện theo bốn nguyên tắc cốt lõi sẽ định hình bản chất của các hành động được thực hiện để đạt được từng mục tiêu và mục đích chiến lược. Các nguyên tắc này là sợi chi đan xen các ưu tiên chiến lược và hướng dẫn chuyển đổi chiến lược cấp cao thành các hành động thiết thực. Chúng truyền tải các giá trị và nguyên tắc chi đạo để tạo ra các quan hệ đối tác cùng có lợi và sự thống nhất các hoạt động của tất cả các đối tác trong và ngoài cộng đồng tiêm chủng. Bốn nguyên tắc cốt lõi bao gồm:
– Lấy con người làm trung tâm: Đáp ứng nhu cầu của các quần thể;
– Dựa trên quan hệ đối tác: Điều chinh các nỗ lực để tối đa hóa tác động;
– Dựa trên sở hữu của quốc gia: Thúc đẩy tiến trình từ dưới lên;
– Dựa trên dữ liệu: Thúc đẩy quá trình ra quyết định dựa trên bằng chứng.