Bệnh viêm dạ dày - ruột do vi rút Rota

  • Thông tin chung
    - Tác nhân gây bệnh: Vi rút Rota - Rotavirus. Có bảy nhóm vi rút Rota A, B, C, D, E, F, G trong đó chỉ có nhóm A, B, C gây bệnh cho người. Nhóm A hay gặp nhất, gây ra hầu hết các vụ dịch tiêu chảy nặng ở trẻ em, nhóm B và C thường gây các vụ dịch lẻ tẻ hay gặp ở trẻ lớn. Vi rút Rota sống bền vững trong môi trường, có thể sống nhiều giờ trên bàn tay và nhiều ngày trên các bề mặt rắn. Vi rút có khả năng gây bệnh khi sống trong phân một tuần. Vi rút bị bất hoạt nhanh chóng bằng ethylendiamintetracetic acid (EDTA) ở nhiệt độ cao trên 45 độ C. Vi rút bị bất hoạt ở pH<3 hoặc pH>10, nhưng có sức đề kháng tốt với clo và ete.
     
    - Phương thức lây truyền: Vi rút Rota lây truyền qua đường phân - miệng, ngoài ra có thể lây theo đường tiếp xúc.
     
    - Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ với triệu chứng sốt nhẹ, nôn, tiêu chảy. Nôn xuất hiện trước tiêu chảy khoảng 6-12 giờ và có thể kéo dài 2-3 ngày. Trẻ nôn rất nhiều vào ngày đầu và giảm bớt khi bắt đầu tiêu chảy. Phân lỏng toàn nước, có lúc màu xanh dưa cải. Có thể có đờm, nhớt nhưng không có máu. Đây là đặc điểm quan trọng để chẩn đoán phân biệt với tiêu chảy do vi khuẩn. Tiêu chảy ngày càng tăng trong vài ngày, sau đó giảm dần kéo dài từ 3-9 ngày. Có thể có đau bụng, ho và chảy nước mũi.
     
    - Biến chứng: Tiêu chảy nặng, mất nước nặng.
     
  • Vắc xin dự phòng
    STT Tên thương mại Nhà sản xuất Bản chất Lịch tiêm Đường tiêm
    1 Rotarix GSK (Bỉ) Là vắc xin vi rút Rota sống, giảm độc lực chủng RIX4414 sản xuất trên tế bào Vero. Liều dùng: 1,5ml

    Lịch uống:
    • Liều 1: Có thể cho trẻ uống từ khi 6 tuần tuổi.
    • Liều 2 cách liều 1 tối thiểu 4 tuần và nên hoàn thành trước 24 tuần tuổi.
    Đường uống
    2 ROTATEQ MSD (Mỹ) Là vắc xin sống giảm độc lực, ngũ giá, có chứa các biến thể (bò – người) vi rút Rota G1, G2, G3, G4 và P1A, các biến thể này được cấy vào các tế bào Vero bằng các kỹ thuật nuôi cấy mô chuẩn mà không có chất chống nấm. Liều dùng: 2 ml

    Lịch uống:
    • Liều 1: Có thể bắt đầu khi trẻ được 6 - 12 tuần tuổi.
    • Liều 2: Sau liều thứ nhất 4 tuần.
    • Liều 3 : Sau liều thứ hai 4 tuần.
    • Lịch trình uống vắc xin của trẻ phải kết thúc trước tuần thứ 32.
    Đường uống
    3 ROTAVIN - M1 Polyvac (Việt Nam) Là vắc xin sống, giảm độc lực, được sản xuất trên tế bào Vero, chứa chủng vi rút Rota G1P8. Liều dùng: 2ml

    Lịch uống:
    • Liều đầu tiên: Uống vào thời điểm trẻ từ 6 tuần tuổi trở lên.
    • Liều thứ 2: Uống sau liều đầu tiên 1-2 tháng.
    Cần uống đủ 2 liều trước khi trẻ trước 6 tháng tuổi.
    Đường uống
    4 Rotavac Bharat Biotech International Limited Ấn Độ) Vắc xin sống giảm độc lực đơn giá được nuôi cấy trên tế bào vero, chứa chủng vi rút 116E Liều uống: 0,5 ml

    Lịch uống:
    - Liều đầu tiên: Lúc 6 tuần tuổi.
    - Liều thứ 2: Cách liều đầu tiên 4 tuần.
    - Liều thứ 3: Cách liều thứ hai 4 tuần.
    Cần hoàn thành trước 34 tuần tuổi
    Đường uống
  • Chống chỉ định
    - Dị ứng nặng sau lần uống trước hoặc với bất cứ thành phần nào của vắc xin, trẻ có tiền sử lồng ruột, dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa, rối loạn miễn dịch kết hợp trầm trọng (bệnh SCID), có bệnh lý nặng, cấp tính, đang bị suy giảm miễn dịch nặng, sốt cao, tiêu chảy hoặc nôn.
    - Các trường hợp viêm dạ dày ruột liên quan đến vắc xin rota sống đã được báo cáo ở trẻ sơ sinh bị SCID.
    - Tiền sử lồng ruột (IS).
     
    Tác dụng không mong muốn
    - Phản ứng thông thường: Sốt nhẹ, khó chịu, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, qua khỏi nhanh.
    - Phản ứng nặng: Rất hiếm gặp hội chứng lồng ruột do vắc xin, sốt cao/ kéo dài cần nhập viện, phản vệ.

    Những điều cần lưu ý
    - Vắc xin rota có thể cho uống đồng thời với hoặc ở bất kỳ khoảng thời gian nào trước hoặc sau các vắc xin sống khác nếu có chi định. Cần lưu ý lịch tiêm và giới hạn tuổi tối đa có thể dùng được vắc xin. Vắc xin rota nói chung bị chống chi định với trẻ có tiền sử lồng ruột.
    - Rotavin:
    + Cần thận trọng đối với những trường hợp có tiền sử dị ứng, co giật.
    + Không nên cho uống vắc xin trong trường hợp đang sốt hay đang trong quá trình điều trị có ảnh hưởng đến hệ miễn dịch (như dùng thuốc, truyền máu, hay các chế phẩm từ máu,...). Chi cho trẻ uống vắc xin khi đã hết sốt ít nhất 3 ngày và sau khi kết thúc điều trị tối thiểu 4 tuần.
    + Không nên cho trẻ bú mẹ trước và sau khi uống vắc xin 30 phút.
    - Rotarix:
    + Cũng như các vắc xin khác, nên hoãn sử dụng Rotarix cho trẻ đang sốt cao cấp tính. Tuy nhiên không chống chi định cho trẻ đang có biểu hiện nhiễm khuẩn nhẹ.
    + Nên hoãn sử dụng cho trẻ đang bị tiêu chảy hoặc nôn.
    + Rotarix không phòng được bệnh viêm dạ dày - ruột do các tác nhân khác không phải vi rút Rota.
    + Cân nhắc đến nguy cơ tiềm tàng của chứng ngưng thở và sự cần thiết của các biện pháp giám sát hô hấp trong vòng 48 - 72 giờ khi chủng ngừa cơ bản cho những trẻ sinh non (đe trước hoặc bằng 28 tuần tuổi thai) và đặc biệt là những trẻ có tiền sử thiểu năng hô hấp.
    - ROTAVAC: Có thể được dùng đồng thời với các loại vắc xin tiêm chủng định kỳ khác cho trẻ em, ví dụ: Bạch hầu - uốn ván - ho gà (DTwP), Haemophilus influenzae típ b (Hib), vắc xin viêm gan B và vắc xin Polio uống (OPV)