Người vị thành niên

  • Người vị thành niên ở lứa tuổi 11 tới 18 là tuổi dễ nhạy cảm với nhiều loại bệnh truyền nhiễm, với các lý do chính như sau:
    – Môi trường hoạt động chủ yếu của nhóm đối tượng này là nhà trường, nơi có sự tiếp xúc thường xuyên với đông người;
    – Bản tính hiếu động do lứa tuổi làm tăng nguy cơ phơi nhiễm với tác nhân vi sinh gây bệnh và một số yếu tố nguy cơ khác; – Là lứa tuổi mà miễn dịch có được do Chương trình TCMR trước đó bắt đầu giảm đi hoặc đã suy giảm đáng kể, làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh;
    – Vào cuối thời kỳ vị thành niên (18 tuổi) cũng là lứa tuổi trên thực tế có thể kết hôn hoặc có khả năng sinh sản, cần được sự bảo vệ bằng miễn dịch cho bản thân đối tượng cũng như con của họ.

    Các vắc xin khuyên cáo sử dụng
    Vắc xin viêm gan B (VGB): Nên hoàn thiện lịch tiêm cơ bản vắc xin VGB cho những người chưa tiêm đủ, hoặc tiêm một mũi nhắc lại nếu đã được tiêm theo lịch tiêm cơ bản hoặc theo chi định của bác sĩ để chủ động phòng nhiễm vi rút VGB.
    Vắc xin sởi, quai bị, rubella (MMR): Nên hoàn thiện lịch tiêm cơ bản hoặc mũi nhắc lại theo quy định. Mũi nhắc lại có thể tăng cường miễn dịch cho phụ nữ khi bước vào tuổi sinh đẻ, truyền kháng thể cho con của họ khi mới sinh ra. Bệnh rubella nếu xảy ra trong thời kỳ mang thai, đặc biệt ở 3 tháng đầu thai kỳ có thể gây ra sảy thai hoặc các dị tật bẩm sinh cho thai nhi.
    Vắc xin uốn ván, bạch hầu, ho gà vô bào giảm liều (Td/Tdap): Nên hoàn thiện lịch tiêm cơ bản hoặc mũi nhắc lại theo quy định. Tiêm nhắc lại để dự phòng bệnh ở nhóm này do miễn dịch có được từ giai đoạn trẻ nhỏ đã suy giảm. Ngoài ra mũi tiêm nhắc có thể tăng cường miễn dịch cho phụ nữ khi bước vào tuổi sinh đe, truyền kháng thể cho
    thai nhi.
    Vắc xin thủy đậu: Nên hoàn thiện lịch tiêm cơ bản hoặc mũi nhắc lại theo quy định để phòng bệnh thủy đậu. Ngoài ra liều nhắc lại còn có tác dụng tăng cường miễn dịch cho phụ nữ khi bước vào tuổi sinh đẻ, truyền kháng thể với bệnh thủy đậu cho thai nhi. Bệnh thủy đậu nếu xảy ra trong thời kỳ mang thai đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ có thể gây sảy thai hoặc hội chứng thủy đậu bẩm sinh. Nếu mẹ bị nhiễm thủy đậu < 4-5 ngày trước sinh và 2 ngày ngay sau sinh, trẻ có nguy cơ mắc thủy đậu sơ sinh. – Vắc xin HPV: Nên thực hiện lịch tiêm cơ bản gồm hai mũi (0, 6 tháng hoặc 0, 12 tháng) cho nam và nữ vị thành niên 9 - 14 tuổi hoặc ba mũi ở người 15 - 45 tuổi (vắc xin Gardasil 9). Có thể sử dụng vắc xin Gardasil (vắc xin tứ giá) cho nữ 9 - 26 tuổi, với lịch tiêm hai mũi lúc 9 - 13 tuổi hoặc ba mũi lúc 14 - 26 tuổi. Mục đích nhằm dự
    phòng nhiễm vi rút Human Papillomavirus (HPV) gây ra ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo và hậu môn; các tổn thương tiền ung thư hoặc loạn sản; các tổn thương bộ phận sinh dục ngoài (bao gồm cả mụn cóc sinh dục).
    Vắc xin cúm mùa: Nên tiêm nhắc vắc xin cúm mùa hằng năm vào trước mùa dịch, nhằm phòng ngừa bệnh cúm do các vi rút cúm mùa típ A, B. Đây là một bệnh rất phổ biến ở mọi lứa tuổi và có thể ảnh hưởng tới thai nhi nếu phụ nữ nhiễm cúm trong thời kỳ mang thai, đặc biệt vào 3 tháng đầu tiên của thai kỳ.
    Vắc xin não mô câu: Nên thực hiện lịch tiêm cơ bản hay tiêm nhắc lại cho thanh thiếu niên, bắt đầu từ độ tuổi 11 - 12 tuổi nếu vẫn có nguy cơ mắc bệnh do não mô cầu xâm lấn. Các dữ liệu nghiên cứu cho thấy thanh thiếu niên là nhóm có gánh nặng bệnh tật cao (tỷ lệ mang trùng cao nhất, ti lệ mắc cao và nguy cơ tử vong cũng cao không kém các nhóm khác). Do đó, việc chủng ngừa cho nhóm thanh thiếu niên là cần thiết, áp dụng nguyên tắc bảo vệ rộng (vắc xin bảo vệ với các nhóm huyết thanh A, B, C, W, Y). Đối với vắc xin não mô cầu nhóm B có bốn kháng nguyên (4CMenB), hoàn thiện lịch tiêm hai mũi cách nhau 1 tháng.
    Vắc xin phế câu: Nên tiêm một trong các loại vắc xin: PPSV23, PCV13, PCV15, PCV20; lịch tiêm theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.
    Vắc xin sốt xuất huyết: Nên tiêm vắc xin để phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue, một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến và nguy hiểm nhất ở các nước lưu hành dịch như Việt Nam. Lịch tiêm tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất, gồm hai mũi, cách nhau 3 tháng.

    Một số lưu ý
    Liều và lịch tiêm cụ thể của từng loại vắc xin được khuyến cáo thực hiện theo đúng lịch tiêm chủng ở Phần II và theo hướng dẫn cho từng loại vắc xin và từng loại bệnh có tại Phần III. Ngoài ra tham khảo những lưu ý khác ở Phần VI của tài liệu này.
    Có thể tham khảo thêm ý kiến tư vấn của bác sĩ chuyên khoa trước khi thực hiện mỗi liều tiêm chủng.