Thế nào là tiêm chủng trọn đời? Tại sao cần phải tiêm chủng trọn đời?

  • Tiêm chủng là nền tảng của y tế cộng cộng, thành phần quan trọng của chăm sóc sức khỏe ban đầu và là quyền của con người. Các bằng chứng khoa học, thực tiễn trên thế giới và ở Viêt Nam trong hơn 40 năm qua cho thấy tiêm chủng phòng bệnh là một trong những biện pháp dự phòng an toàn nhất, hiệu quả nhất để dự phòng mắc bệnh, tử vong và nâng cao chất lượng cuộc sống.
    Tiêm chủng cho mọi lứa tuổi/ trọn đời/ suốt đời là một chiến lược để ngăn ngừa bệnh tật và tối đa hóa sức khỏe trong suốt cuộc đời của một người, bất kể ở tuổi nào. Nó đòi hỏi lịch tiêm chủng và khả năng tiếp cận tiêm chủng phù hợp với mọi giai đoạn của một cá nhân trong cuộc đời, lối sống và các nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm mà họ có thể gặp phải:
    – Trẻ em là đối tượng dễ cảm thụ với các bệnh nhiễm trùng và cần phải tiêm vắc xin để chủ động phòng ngừa các bệnh có thể dự phòng bằng vắc xin.
    – Tuổi vị thành niên là thời điểm tốt nhất để chủng ngừa các vắc xin cho những người chưa được tiêm, hay chưa được tiêm đủ, hoặc cần tiêm một liều nhắc lại nếu đã được tiêm theo lịch tiêm cơ bản, bao gồm vắc xin ngừa vi rút u nhú ở người (HPV) và vi khuẩn não mô cầu.
    – Tiêm chủng cho phụ nữ mang thai có thể mang lại lợi ích cho phụ nữ và con của họ, kể cả ngăn ngừa các biến chứng do cúm, đẻ non.
    – Tiêm chủng cho người cao tuổi có thể ngăn ngừa việc nhập viện và tử vong không cần thiết khỏi các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc xin. – Những người mắc một số bệnh mạn tính (ví dụ: Tiểu đường, bệnh phổi hoặc bệnh tim mạch) có nhiều khả năng phát triển các biến chứng nghiêm trọng do các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc xin chẳng hạn như bệnh cúm hoặc bệnh phế cầu khuẩn.
    – Tiêm chủng cho những người chăm sóc và các cán bộ y tế nhằm ngăn ngừa lây lan bệnh tật cho những người dễ bị tổn thương hơn, do đó giảm áp lực lên các hệ thống y tế.
    – Tiêm chủng cho người đi du lịch, người di cư hay đi xuất khẩu lao động vì họ có nguy cơ cao phơi nhiễm với các bệnh truyền nhiễm, trong đó có thể có những tác nhân gây bệnh mới, do tiếp xúc với nguồn bệnh trong quá trình đi du lịch hoặc đến nơi có lưu hành dịch.
    Vào tháng 8 năm 2020, Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 73 đã thông qua Kế hoạch Tiêm chủng (IA2030) với mục tiêu chiến lược toàn cầu là không bỏ lại ai ở phía sau, một thế giới mà mọi người, ở mọi nơi, ở mọi lứa tuổi được hưởng lợi hoàn toàn từ vắc xin vì sức khỏe và hạnh phúc. Để đạt được mục tiêu này, tiêm chủng cho mọi lứa tuổi hay tiêm chủng trọn đời/suốt đời đã được khuyến nghị trong Kế hoạch vắc xin toàn cầu.

    Tiêm chủng không chi cần thiết cho trẻ em mà còn cho cả người lớn. Mọi người thường nghĩ vắc xin chi dành cho trẻ em vì bệnh truyền nhiễm lây truyền chủ yếu ở trẻ em và chi có trẻ em mới bị bệnh nặng. Tuy nhiên, người lớn cũng cần phải được tiêm chủng vì các lý do sau:
    – Người trưởng thành có thể không được tiêm đầy đủ vắc xin khi còn nhỏ và có nhiều vắc xin phòng bệnh mới ra đời.
    – Miễn dịch thu được sau tiêm vắc xin sẽ giảm dần theo thời gian.
    – Người lớn tuổi và người mắc các bệnh mạn tính có hệ miễn dịch suy giảm nên cơ thể họ nhạy cảm hơn với các tác nhân gây bệnh. Khi đó, họ có nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm cao hơn và khi mắc bệnh thì biến chứng bệnh cũng sẽ nặng hơn.
    – Người cao tuổi thường xuyên phải sử dụng nhiều loại thuốc: Kháng sinh, thuốc ức chế miễn dịch…
    – Người lớn là nguồn lây bệnh cho trẻ em. Tác động của tiêm chủng suốt đời là rất to lớn và toàn diện trên mọi lĩnh vực. Thực hiện tiêm chủng suốt đời mang lại một cơ hội giá trị để cải thiện sức khỏe, tăng cường tính bền vững của hệ thống y tế và thúc đẩy sự thịnh vượng kinh tế. Các chính sách hỗ trợ tiêm chủng trọn đời có khả năng mang lại lợi ích cho sức khỏe cá nhân và cộng đồng, thúc đẩy tuổi già khỏe mạnh, hỗ trợ tính bền vững lâu dài của các hệ thống y tế thông qua giảm chi phí chăm sóc sức khỏe, mang lại nhiều lợi ích kinh tế hơn bằng cách tăng năng suất của lực lượng lao động, hỗ trợ công bằng, là nền tảng để cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phổ cập khác và làm giảm sự lây lan của các chủng vi sinh vật kháng kháng sinh.